Hán Minh CườngHán Minh Cường Chủ tịch tập đoàn Sgroup Việt Nam

Tác động của mô hình chính quyền 3 cấp đến Quy hoạch đô thị và nông thôn – Bài 2

BÀI 2: NHỮNG VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC QUY HOẠCH CẦN NGHIÊN CỨU TRONG BỐI CẢNH MỚI

Ngày 28/02/0205, Bộ chính trị, Ban Bí thư đã ban hành kết luận số 127-KL/TW về việc chỉ đạo nghiên cứu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bao gồm việc bỏ cấp hiện và sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền từ 4 cấp: trung ương – tỉnh/thành – huyện/quận – xã/phường sang 3 cấp: trung ương (quốc gia) – tỉnh/thành (trung gian) – xã/phường (cơ sở) dẫn đến nhiều thay đổi, cả về các yếu tố vật lý như diện tích, dân số, ranh giới hành chính, cấu trúc không gian, hạ tầng kỹ thuật đến các yếu tố phi vật lý như hệ thống quản lý, chính sách phát triển, hệ thống pháp lý, cơ chế phân bổ nguồn lực, quản trị đô thị và nông thôn. Để đánh giá đầy đủ và chính xác các tác động đối với công tác quy hoạch, chúng ta cần sử dụng một cách tiếp cận tổng hợp và đa chiều, dựa trên phương pháp lập quy hoạch và yêu cầu mới đặt ra cho công tác lập và quản lý quy hoạch.
 
1. Về mô hình quản lý hiện hành và phương pháp lập quy hoạch
Hiện nay, Việt Nam tổ chức chính quyền địa phương theo 4 cấp: Trung ương – tỉnh/thành – huyện/quận – xã/phường. Cả nước có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 705 đơn vị cấp huyện và 10.595 đơn vị cấp xã, thuộc nhóm những nước có số lượng đơn vị tỉnh, huyện, xã nhiều nhất thế giới. Với số lượng đơn vị hành chính như vậy, mỗi năm Việt Nam phải lập và phê duyệt một số lượng rất lớn các đồ án quy hoạch. Theo thống kê sơ bộ, trước năm 2017, cả nước có trên 19.000 bản quy hoạch thuộc các lĩnh vực và cấp độ quản lý khác nhau. Do có nhiều cấp và ngành lập quy hoạch độc lập, tính tích hợp và phối hợp “trên – dưới, dọc – ngang” rất hạn chế. Trước khi có quy hoạch quốc gia – vùng – tỉnh được lập theo Luật quy hoạch số 21 năm 2017 thì quy hoạch các cấp và các ngành bị chồng chéo và mâu thuẫn rất nhiều. Đặc biệt, quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng được lập riêng rẽ, dẫn đến khó khăn trong quản lý (dự án treo, chồng lấn). Tình trạng thiếu tích hợp khiến các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị… thiếu sự đồng bộ giữa các cấp chính quyền​. Điều này làm giảm hiệu lực thực thi quy hoạch và hiệu quả phát triển đô thị – nông thôn.
Từ khi Luật quy hoạch năm 2017 có hiệu lực, đã thiết lập hệ thống quy hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương và làm giảm đáng kể số lượng quy hoạch phải lập nhờ bãi bỏ quy hoạch sản phẩm và tích hợp các quy hoạch riêng lẻ vào quy hoạch tổng thể quốc gia, vùng, tỉnh. Thời gian tới, sau khi thực hiện sáp nhập xong và Luật quy hoạch đô thị và nông thôn có hiệu lực từ 01/7/2025, dự kiến số lượng quy hoạch sẽ tiếp tục giảm. Giả định, sau sáp nhập số tỉnh còn lại là 32 tỉnh (theo tài liệu quán trà đá gần chỗ mình cung cấp), mỗi tỉnh có ít nhất 9 – 10 đơn vị hành chính trực thuộc thì số lượng đồ án quy hoạch ước tính bao gồm: 32 quy hoạch tỉnh, trung bình 5 quy hoạch vùng liên xã hoặc vùng chức năng mỗi tỉnh, khoảng 3000 đồ án quy hoạch phân khu đô thị cho tổng số 904 đô thị (cái này thì không chắc cũng có thể nhiều hơn tùy thuộc vào phương án sáp nhập). Như vậy, ước tính sẽ có khoảng hơn 3000 đồ án quy hoạch (chưa kể các quy hoạch cấp dưới và quy hoạch quốc gia, 6 quy hoạch vùng, 39 quy hoạch ngành), tạo thuận lợi lớn để tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thực thi quy hoạch.
Mặc dù vậy, phương pháp lập quy hoạch hiện nay thiên về cách tiếp cận truyền thống, tuyến tính và dự báo tĩnh. Các đô thị thường lập quy hoạch chung với tầm nhìn 20-30 năm, dự báo quy mô dân số, lao động mục tiêu và từ đó xác định “sức chứa” về đất đai, hạ tầng cần thiết. Cách tiếp cận “dự báo – phân bổ” này mang nặng tính số học, dựa vào các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cố định (diện tích đất ở bình quân, diện tích cây xanh trên đầu người, bán kính phục vụ công trình công cộng…), phù hợp với nền kinh tế bao cấp xong chưa phù hợp với quy luật kinh tế thị trường, nhiều quy hoạch chưa bám sát nhu cầu thực tế nên thiếu tính khả thi và trở thành các quy hoạch treo. Ví dụ, một đô thị loại II phải đạt quy mô dân số toàn đô thị ít nhất trên 200.000 người, mật độ dân số toàn đô thị tối thiểu 1400 người/km², diện tích nhà ở bình quân đầu người 28-32 m2 sàn/người… Các chỉ tiêu này giúp định hướng phát triển đô thị nhưng cũng tạo ra tư duy chạy theo quy mô hơn là chất lượng. Ngân hàng Thế giới đã từng nhận xét hệ thống phân loại đô thị của Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào đầu vào tĩnh như quy mô dân số, diện tích, thay vì đánh giá hiệu quả phát triển và khả năng linh hoạt.
Phương pháp lập quy hoạch vẫn còn sử dụng các phương pháp dự báo truyền thống, tính toán quy mô theo “sức chứa” đã trở nên lạc hậu. Do chưa áp dụng các công cụ và mô hình dự báo hiện đại như mô hình dự báo theo kịch bản, theo cấu trúc không gian động, ứng dụng GIS và AI… mà nhiều quy hoạch thiếu tầm nhìn, tính tích hợp còn hạn chế. Mặc dù vừa qua khi thực hiện các quy hoạch cấp quốc gia, vùng và tỉnh, tư tưởng tích hợp cũng đã được thể hiện trong các đồ án quy hoạch nhưng việc thực hiện các đồ án quy hoạch đô thị và nông thôn vẫn đặt nặng cách tiếp cận từ trên xuống. Các đồ án thuần túy tập trung vào vấn đề dự báo, phân vùng, cấu trúc và mạng lưới, chú trọng nhiều đến quy hoạch không gian và sử dụng đất mà chưa nghiên cứu và phân tích kỹ những vấn đề liên quan như tác động của các kịch bản và xu thế kinh tế, kinh tế đô thị, biến đổi khí hậu, tác động của quy hoạch đến các tầng lớp thu nhập thấp…Vì vậy, rất cần thiết phải có những thay đổi vừa để thích ứng với bối cảnh mới và cũng là cơ hội để thay đổi phương pháp lập quy hoạch, tạo ra những quy hoạch có chất lượng tốt hơn nữa.
 
2. Những thay đổi do chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền
*) Yếu tố vật lý
– Ranh giới hành chính và quy mô đơn vị: Việc thay đổi mô hình tổ chức chính quyền từ 4 cấp xuống còn 3 cấp sẽ dẫn đến những thay đổi đáng kể về ranh giới hành chính và quy mô các đơn vị hành chính. Cụ thể, các đơn vị hành chính sẽ chỉ còn cấp tỉnh và cấp xã trực thuộc tỉnh. Việc xóa bỏ cấp huyện khiến nhiều ranh giới huyện hiện tại bị xóa bỏ, các tỉnh phải tổ chức lại hệ thống đơn vị hành chính, hình thành các cụm xã mới hoặc sáp nhập một số xã vào các đơn vị lớn hơn. Quá trình này làm thay đổi trực tiếp các chỉ tiêu về dân số, diện tích, mật độ dân cư và hệ thống hạ tầng, vốn là các tiêu chí quan trọng trong đánh giá và phân loại đô thị. Vì vậy, khi điều chỉnh địa giới hành chính, các tiêu chuẩn phân loại đô thị như quy mô dân số, mật độ dân cư, tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật – xã hội cần phải được rà soát và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới. Ví dụ, theo quy định hiện hành, đô thị loại III phải có dân số ít nhất từ 100.000 người trở lên, mật độ nội thành tối thiểu 6.000 người/km², tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị ít nhất 60%​. Sau khi điều chỉnh địa giới và quy mô hành chính, một số đô thị có thể không còn đạt (hoặc vượt quá) các ngưỡng này, buộc phải đánh giá lại phân loại đô thị.
– Cấu trúc không gian đô thị và nông thôn: Việc bỏ cấp huyện sẽ “tái định hình” hệ thống đô thị. Trước đây mỗi huyện thường có một thị trấn huyện lỵ đóng vai trò trung tâm kinh tế – xã hội của huyện. Khi không có huyện, các thị trấn này có thể trở thành một đơn vị hành chính đô thị loại xã/phường trực thuộc tỉnh. Vai trò của các đô thị nhỏ và vừa cần được nhìn nhận lại trong mạng lưới đô thị toàn tỉnh. Các đô thị trung tâm cấp tỉnh (thành phố tỉnh lỵ) có thể mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra toàn tỉnh, trong khi các đô thị vệ tinh, thị trấn cũ cần tìm vị trí mới trong hệ thống. Việc quy hoạch không gian tỉnh sẽ mang tính tổng thể liên tục, không bị chia cắt bởi ranh giới hành chính huyện, giúp tạo không gian phát triển rộng hơn.
– Phân bổ đất đai và sử dụng đất: Trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ thay đổi. Hiện nay chỉ tiêu sử dụng đất được phân bổ từ tỉnh xuống huyện, rồi huyện xuống xã. Khi không có huyện, việc phân bổ đất cho nhu cầu phát triển đô thị, nông thôn sẽ thực hiện trực tiếp tỉnh xuống xã. Về mặt tích cực, điều này có thể giảm bớt khâu trung gian, giúp việc phân bổ đất đai nhanh hơn, thống nhất trên toàn tỉnh (hạn chế tình trạng huyện này thiếu đất phát triển trong khi huyện kia dư hạn mức). Mặt khác, tỉnh sẽ phải điều chỉnh ranh giới quy hoạch sử dụng đất bao phủ toàn bộ khu vực từng huyện cũ, có thể cần quy hoạch chi tiết hơn đến cấp xã để đảm bảo không bỏ sót nhu cầu địa phương. Việc quản lý quỹ đất liên xã (trước do huyện quản) như đất nông nghiệp liên thôn, đất lâm nghiệp, đất khu công nghiệp cấp huyện… sẽ giao về tỉnh quản lý thống nhất hoặc quản lý ở cấp xã khi sáp nhập các xã với nhau tùy theo từng trường hợp.
– Hệ thống hạ tầng kỹ thuật: Bỏ cấp huyện đồng nghĩa mạng lưới hạ tầng sẽ do tỉnh và xã quản lý trực tiếp. Các tuyến đường huyện (liên xã) trước đây do huyện đầu tư và bảo trì sẽ chuyển lên cho tỉnh hoặc xuống cho cụm xã phụ trách. Nhiều khả năng tỉnh sẽ tiếp nhận quản lý các tuyến liên xã quan trọng để đảm bảo kết nối liên vùng, còn xã quản lý đường nội bộ. Về quy hoạch, tỉnh sẽ cần cập nhật quy hoạch giao thông trong quy hoạch tỉnh bao gồm cả những tuyến vốn là đường huyện và đường liên xã. Tương tự, các công trình hạ tầng kỹ thuật khác như cấp nước, thoát nước, điện, thông tin liên lạc… vốn triển khai theo địa bàn huyện cần được quy hoạch lại theo cụm xã hoặc theo vùng chức năng của tỉnh. Điều này cho phép quy hoạch hạ tầng theo quy mô lớn hơn, tránh trùng lặp (ví dụ: quy hoạch một nhà máy nước phục vụ cả vùng liên xã thay vì mỗi huyện một nhà máy nhỏ). Giai đoạn lập quy hoạch tỉnh vừa qua, nhiều tỉnh đã xây dựng quy hoạch hạ tầng tổng thể cho toàn tỉnh nhưng tới đây sẽ cần cập nhật lại các nội dung này cho phù hợp. Ngoài ra, việc quản lý vận hành sau này cần phân công rõ cho cấp tỉnh hay xã, tránh khoảng trống khi bỏ cấp trung gian.
*) Yếu tố phi vật lý
Việc thay đổi cơ cấu quản lý từ mô hình 4 cấp sang 3 cấp giúp giảm số lượng đồ án quy hoạch, làm cho hệ thống quy hoạch đơn giản hơn, tránh chồng chéo và tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng, tính khả thi và hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, việc bỏ cấp huyện khiến tỉnh phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ quy hoạch trực tiếp hơn, như phê duyệt các đồ án quy hoạch vùng liên xã, quy hoạch phân khu đô thị, đòi hỏi tăng cường năng lực, bộ máy quản lý và nguồn nhân lực chuyên môn cấp tỉnh. Sự thay đổi này cũng yêu cầu cơ chế phối hợp trực tiếp giữa tỉnh và xã phải hiệu quả hơn trước đây. Tỉnh cần thiết lập các kênh quản lý và truyền thông tin trực tiếp tới cấp xã để bù đắp cho vai trò “cầu nối” của huyện trước đây. Việc này làm nổi bật vai trò của hệ thống quản trị thông tin và dữ liệu quy hoạch cấp tỉnh, đòi hỏi các tỉnh phát triển mạnh hệ thống dữ liệu tập trung, GIS, và số hóa quản lý thông tin quy hoạch nhằm giúp các xã thực hiện quy hoạch thống nhất, chính xác hơn. Cơ chế phân bổ ngân sách cho phát triển quy hoạch cũng sẽ thay đổi, tỉnh sẽ trực tiếp phân bổ nguồn lực đầu tư, ưu tiên các dự án lớn và liên xã, trong khi cấp xã cần đảm bảo cân đối nguồn lực và năng lực thực hiện các dự án quy hoạch quy mô nhỏ. Do đó, công tác lập quy hoạch ở cấp xã cần chú trọng tăng cường năng lực cán bộ và cơ chế quản lý phù hợp, đặc biệt là sự phối hợp liên xã trong các vấn đề về hạ tầng, sử dụng đất và môi trường. Đồng thời, hệ thống pháp lý liên quan (các luật, nghị định, tiêu chuẩn quy hoạch…) cần điều chỉnh để đồng bộ với mô hình quản lý 3 cấp, đảm bảo vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
(3) Tác động đến công tác quy hoạch
– Phương pháp dự báo lập quy hoạch: Mô hình 3 cấp buộc quá trình lập quy hoạch phải điều chỉnh cách tiếp cận. Trước đây, quy hoạch đô thị thường chia theo địa bàn huyện, mỗi huyện lập dự báo phát triển riêng cho thị trấn và khu vực nông thôn của mình. Khi cấp huyện bị lược bỏ, tỉnh sẽ trực tiếp quản lý nhiều xã/phường và đô thị. Mô hình dự báo sẽ mang tính “vùng” hơn – tức là dự báo nhu cầu phát triển đô thị trên phạm vi liên xã, liên vùng thay vì bị giới hạn bởi ranh giới huyện nhỏ hẹp. Việc không còn “chỉ tiêu cứng” cho huyện giúp tỉnh linh hoạt xây dựng các kịch bản phát triển: ví dụ kịch bản đô thị hóa nhanh tập trung vào một vài vùng hoặc hành lang kinh tế, hoặc kịch bản phát triển đồng đều các cụm liên xã xã. Cần chuyển từ hệ thống quy hoạch tĩnh sang phân tích đa kịch bản linh hoạt. Theo đó, các đồ án quy hoạch cần đánh giá toàn diện các phương án phát triển, bao gồm cả phương án mở rộng đô thị và phương án phát triển đô thị nén, dựa trên phân tích định lượng về chi phí – lợi ích cũng như đánh giá các xu hướng thay đổi nhân khẩu học, kinh tế – xã hội và môi trường trong tương lai. Việc áp dụng mô hình phân tích đa kịch bản có thể sử dụng kết hợp các công cụ hiện đại như mô hình GIS tích hợp, phân tích dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình mô phỏng đô thị động giúp nâng cao tính khả thi của các đồ án quy hoạch, đảm bảo hiệu quả đầu tư nguồn lực và tăng khả năng đáp ứng tốt hơn với những biến động kinh tế – xã hội trong dài hạn.
– Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất: Trong mô hình mới, cấp huyện không còn, do đó tỉnh phải chi tiết hóa quy hoạch sử dụng đất đến tận cấp xã. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm cũng sẽ giao trực tiếp cho xã. Điều này tạo thuận lợi là tỉnh chủ động điều tiết đất đai trên toàn tỉnh theo ưu tiên phát triển, tránh tình trạng các khu vực phát triển thiếu đất cho công nghiệp hoặc đô thị do hạn mức thấp. Tuy nhiên, tỉnh cần phân bổ chỉ tiêu đất hợp lý xuống các xã, đảm bảo công bằng và phù hợp tiềm năng từng nơi. Có thể, tỉnh sẽ lập quy hoạch phân bổ đất đai theo vùng (cụm xã hoặc tiểu vùng) để thay thế cho quy hoạch sử dụng đất huyện. Các xã sẽ căn cứ định hướng tỉnh để lập kế hoạch sử dụng đất cụ thể cho địa bàn mình. Thực tế, Luật Quy hoạch 2017 hướng tới tích hợp quy hoạch, nên quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 đã bao gồm nội dung phân bổ đất đai cho các đơn vị cấp huyện. Giờ đây, nội dung này có thể chuyển thành phân bổ theo tiểu vùng hoặc đơn vị hành chính mới. Việc điều chỉnh quy hoạch đất đai còn liên quan tới quyền lợi người dân: ví dụ đất nông nghiệp liên huyện trước đây được giữ cho an ninh lương thực, nay có thể xem xét chuyển đổi nếu phù hợp quy hoạch tỉnh và nhu cầu phát triển vùng liên xã. Tất cả đòi hỏi công tác lập quy hoạch đất đai phải linh hoạt và thống nhất hơn, đồng thời các quyết định thu hồi, chuyển mục đích đất sẽ phải nghiên cứu, phân công lại trách nhiệm để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế địa phương.
– Quy hoạch hệ thống đô thị và phân bố dân cư: Sáp nhập tỉnh và bỏ cấp huyện tác động mạnh đến định hướng phát triển hệ thống đô thị. Trước đây, mạng lưới đô thị thường được quy hoạch theo mô hình: tỉnh có thành phố trung tâm, mỗi huyện có thị trấn/thị xã vệ tinh. Nay, tỉnh có thể tổ chức lại mạng lưới này mà không bị ràng buộc mỗi huyện một đô thị. Một số huyện cũ có thể hợp nhất thành thành phố thuộc tỉnh (như định hướng ở TP Hồ Chí Minh nhập 5 huyện ngoại thành thành 3 thành phố trực thuộc​). Điều này tạo ra những cực phát triển mới quy mô lớn hơn, có đủ nguồn lực và dân số để phát triển đô thị hiện đại. Mỗi tỉnh cần đóng vai trò là một cực phát triển của quốc gia, mỗi vùng trong tỉnh có các cực tăng trưởng để dẫn dắt phát triển. Tuy vậy, cũng cần tính toán để duy trì cân bằng đô thị – nông thôn: nếu quá tập trung đô thị hóa ở một vài thành phố thuộc tỉnh, các vùng nông thôn sâu xa có nguy cơ bị bỏ lại. Vai trò của các đô thị nhỏ (thị trấn) cần được xác định lại, chúng có thể trở thành trung tâm dịch vụ cấp cụm xã, hoặc thành “đô thị vệ tinh” hỗ trợ thành phố tỉnh lỵ. Cần có những mô hình đô thị được xác định rõ ràng hạt nhân tạo thị, những yếu tố là động lực để kích hoạt sự phát triển, với quyền tự chủ cao hơn về đầu tư, ngân sách để dẫn dắt phát triển khu vực xung quanh. Công tác quy hoạch đô thị – nông thôn sẽ chuyển sang cách tiếp cận vùng liên xã, liên đô thị trên địa bàn tỉnh, thay vì khép kín trong từng huyện. Điều này mở ra cơ hội quy hoạch đô thị theo hệ thống phân cấp mới mạch lạc hơn, nhưng cũng đòi hỏi tầm nhìn rộng ở cấp tỉnh để bao quát toàn tỉnh.
– Quy hoạch giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội: Việc chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền từ 4 cấp xuống 3 cấp sẽ tác động đáng kể đến quy hoạch giao thông, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Trước hết, về giao thông, cấu trúc mạng lưới giao thông hiện tại (gồm đường tỉnh, đường huyện, đường xã) sẽ phải điều chỉnh, đặc biệt là các tuyến đường huyện hiện tại có thể sẽ được nâng cấp thành đường tỉnh hoặc giao trực tiếp cho cấp xã quản lý. Điều này dẫn đến việc thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế, cấp đường và phương thức phân bổ nguồn vốn đầu tư.
Đối với các quy hoạch hạ tầng kỹ thuật như cấp thoát nước, cấp điện, xử lý rác thải, sẽ có xu hướng tái tổ chức theo phạm vi vùng hoặc cụm xã thay vì quy hoạch từng huyện riêng lẻ như trước. Chẳng hạn, các điểm xử lý chất thải sẽ chuyển từ nhiều bãi rác nhỏ cấp huyện sang ít hơn các khu xử lý quy mô lớn cấp vùng liên xã, với công nghệ xử lý hiện đại hơn. Tương tự, hạ tầng cấp nước sạch cũng sẽ được tổ chức lại trên cơ sở quy mô lớn hơn, nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành và quản lý.
Đối với hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, việc xóa bỏ cấp huyện làm thay đổi tổ chức mạng lưới trường học và cơ sở y tế. Các bệnh viện huyện và trường THPT trước đây trực thuộc huyện nay có thể được quản lý trực tiếp bởi tỉnh hoặc tổ chức lại theo các cụm liên xã, nhằm tận dụng tốt hơn các nguồn lực và giảm thiểu tình trạng lãng phí, thừa thiếu cục bộ tại các địa bàn nhỏ. Điều này yêu cầu tỉnh phải tính toán lại vị trí, quy mô và khoảng cách phục vụ của từng công trình, đảm bảo người dân vẫn tiếp cận thuận lợi các dịch vụ thiết yếu. Như vậy, sự thay đổi mô hình tổ chức hành chính sẽ đòi hỏi quy hoạch hạ tầng phải đi trước, đồng thời xác định lại các tiêu chuẩn và phương án tổ chức không gian phù hợp hơn với mô hình quản lý mới.
– Quản lý và thực hiện quy hoạch: Bỏ cấp huyện dẫn đến phân cấp trách nhiệm mới trong quản lý quy hoạch. Nhiệm vụ thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch trước đây thuộc UBND huyện (như quy hoạch xã, quy hoạch chi tiết khu chức năng trong huyện) sẽ chuyển lên UBND tỉnh hoặc ủy quyền cho UBND cấp xã thực hiện. Nhiều khả năng, tỉnh sẽ tập trung phê duyệt các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu; còn cấp xã sẽ lập quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị cho khu vực của mình. Công tác giám sát thực hiện quy hoạch (như kiểm tra công trình xây đúng quy hoạch, xử lý vi phạm) trước do Thanh tra xây dựng cấp huyện thực hiện, nay tỉnh phải tăng cường thanh tra cấp tỉnh hoặc phân công cho xã tự quản lý dưới sự hướng dẫn của thanh tra tỉnh. Về tài chính, nguồn lực cho công tác quy hoạch sẽ cần được phân bổ hợp lý, tỉnh cần có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các xã thực hiện quy hoạch vì trước đây cấp xã ngân sách dành cho công tác này rất hạn hẹp hạn hẹp. Ngoài ra, việc quản trị cơ sở dữ liệu quy hoạch sẽ chịu tác động lớn. Khi bỏ cấp huyện, toàn bộ dữ liệu quy hoạch, bản đồ, hồ sơ dự án trước đây thuộc cấp huyện quản lý sẽ chuyển lên tỉnh. Điều này đòi hỏi tỉnh phải tổ chức lại, tích hợp và thống nhất một lượng lớn dữ liệu từ nhiều huyện trước đây vào một cơ sở dữ liệu chung. Để quản lý hiệu quả, tỉnh buộc phải đầu tư xây dựng một hệ thống GIS tích hợp, cho phép quản lý dữ liệu tập trung, đồng bộ và dễ dàng cập nhật, chia sẻ dữ liệu với cấp xã cũng như các bên liên quan. Việc chuyển đổi sang quản lý bằng hệ thống GIS sẽ đòi hỏi yêu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông tin, đồng thời cần đào tạo cán bộ cấp tỉnh và xã để đảm bảo khả năng vận hành và sử dụng hiệu quả hệ thống mới này. (Quảng cáo tí: cái này ai có nhu cầu liên hệ với công ty Đất vàng – https://datvangvietnam.vn/ để cung cấp các hệ thống GIS quản lý quy hoạch mới nhất hoặc Viện khoa học công nghệ xây dựng AIST – https://aist.edu.vn/ thành viên của SGroup Việt Nam để tham gia các chương trình đào tạo về GIS với các chuyên gia hàng đầu).
Nhìn chung, có rất nhiều tác động đến công tác lập và quản lý quy hoạch khi chuyển đổi từ mô hình chính quyền 4 cấp xuống 3 cấp và thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính. Những phân tích trên đây có lẽ chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể những tác động rất lớn sắp đến. Việc nhận diện đầy đủ và rõ ràng các tác động sẽ giúp các địa phương chủ động xây dựng các giải pháp thích ứng hiệu quả, đồng thời thiết lập một tầm nhìn dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, linh hoạt và thực chất trong công tác quy hoạch ở bối cảnh mới.
Xin mời theo dõi tiếp Bài 3: NHỮNG GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

logo

Tiến sĩ Hán Minh Cường là Chủ tịch Hội đồng quản trị, người sáng lập SGroup Việt Nam. Tác giả của Phuơng pháp học tập thông minh Miwiz

Press ESC to close